Oyama hạ sơn và tử chiến với bò mộng tại thành phố Tateyama huyện Chiba. Bắt đầu từ đây, Mas Oyama trở nên nổi tiếng. Ông biễu diễn Karate tại nhiều nơi trên thế giới, hạ được 47 con bò mộng bằng tay không (4 con chết tại chỗ). Nhận lời thách đấu 7 trận và toàn thắng tại Mỹ năm 1952. Được công chúng Mỹ đặt danh hiệu “God Hand” (Thần Thủ) vào năm 1955, khi ông biểu diễn đòn Shuto chặt bay cổ chai rượu Whisky. Tháng 1-1964, các võ sư Muay Thai thách đấu với Karate Nhật Bản, giới Karate Nhật Bản từ chối vì cho là “tà đạo” nhưng Oyama nhận lời cùng với ba môn đệ là Kurozaki, Nakamura, Ozawa sang Bangkok giao đấu với Muay Thai. Thắng 2 trong 3 trận, giữ uy tín cho Karate Nhật Bản. Và còn rất nhiều chiến tích về ông, con người của huyền thoại…
Lướt nhanh một lượt trên khắp thế giới, người ta có thể thấy rằng hầu như những vận động viên môn đấu vật có tầm cỡ, đều y như rằng, đã xuất thân từ những trường võ Judo hay Sumo của nước Nhật Bản. Thế nhưng vùng núi Alps của Thụy Sĩ, nơi cách Nhật Bản đến hàng ngàn dặm, có một môn đấu vật hình thành từ lâu đời, mà trong nó ít nhiều những điểm tương đồng với hai môn võ Judo và Sumo.
Kapoira, môn võ đặc trưng của Phi Châu. Người Phi Châu có sức bật rất tốt, khả năng nhào lộn cũng đặc biệt cao. Kapoira hoàn toàn dựa trên những yếu tố này. Là một môn phái có lối di chuyển và tấn công đẹp mắt, bao gồm rất nhiều động tác nhào lộn trước khi ra đòn Chủ yếu là đòn chân . Nhìn qua hao hao giống mấy điệu nhảy Hip-hop của các bạn trẻ. Tuy nhiên sức mạnh của cú đòn được cộng hưởng từ lực xoay của thân Giống như đá vòng cầu kết hợp với sức bật của cơ bắp người Phi Châu nên rất có hiệu quả.
Sumo là một môn võ cổ truyền của Nhật Bản. Một trận đấu được diễn ra giữa hai võ sĩ Sumo trong một vòng tròn gọi là dohyo có đường kính khoảng 4,55 mét (hay 15 shaku theo đơn vị đo Nhật Bản). Võ sĩ nào bị ngã trong vòng tròn hoặc bị đẩy khỏi vòng tròn trước là người thua cuộc.
Sumo có ảnh hưởng bởi những nghi lễ tôn giáo của Nhật Bản và rõ rệt nhất là nghi thức thần đạo Sinto. Xuất hiện từ năm 23 TCN, những võ sĩ sumo (sumotori) vốn là những người có nhiệm vụ hành quyết và đe dọa quân địch đầu hàng.
Trước các trận đấu, võ đài sumo phải được tẩy uế bằng cách tung muối. Và những tiếng vỗ tay của võ sĩ sumo là để kêu gọi sự chứng kiến của các vị thần. Trong môn võ sumo, thứ bậc của võ sĩ được xếp theo 9 hạng. Những thứ hạng cao nhất gồm: Komusubi, Sekiwake, Ozeki và trên cùng là Yokozuna. Trong thế kỷ 20, sumo đã trở thành môn thể thao toàn cầu và các võ sĩ được phong tước hiệu Yokozuna cao quý nhất cũng dần xuất hiện những người nước ngoài.
Ssireum, môn vật truyền thống của Hàn Quốc, cũng là một môn thể thao thi đấu dân gian, trong đó hai đấu thủ nắm vào satba (dây vải thắt quanh lưng và bắp đùi), sử dụng toàn bộ sức mạnh và các kỹ thuật của mình để vật đối thủ xuống sàn đấu.
Lịch sử môn vật truyền thống ssireum bắt đầu cùng thời với sự hình thành sinh hoạt cộng đồng. Trong xã hội cổ, con người phải chiến đấu để chống lại những loài thú hoang, không phải chỉ để tự vệ, mà còn để tìm thức ăn. Bên cạnh đó, các cộng đồng này không thể tránh khỏi việc xung đột với những bộ tộc khác. Vì vậy, con người phải luyện tập những hình thức võ thuật khác nhau để bảo vệ chính mình.
Đã gần 40 năm trôi qua, và từng nghe ông khẳng định trên truyền hình về lời thách đấu với Lý Tiểu Long, tôi vẫn muốn hỏi ông: “Sau lời thách đấu tuôn ra vì tự ái dân tộc, thực sự ông có ngại nếu Lý Tiểu Long nhận lời không?”
Có lẽ chẳng cần xem xét rằng trong ngành Võ có nghệ thuật hay không. Bởi, trong dòng sinh hoạt thường hằng nghề ngành gì lại chẳng cần, có, hoặc liên quan tới nghệ thuật. Nghệ thuật là chỉ chung những việc làm có tính chuyên môn, đòi hỏi sự giỏi giang, khéo léo, nhằm đưa tới cái hoàn hảo nhất, cái đẹp. Có cả nghệ thuật mua bán, giao tế; nghệ thuật cắm hoa xẻ gỗ; thậm chí nghệ thuật khóc, cười, nghệ thuật nấu một cái … lẩu lươn kia mà. Điều cần bàn ở đây là vai trò của nghệ thuật trong Đạo và nghệ thuật của Võ như thế nào.
Khi thực hiện kế hoạch mưu sát vua Tần, Thái tử Đan đã mở cuộc trưng thu rộng rãi nhiều loại “trủy thủ” sắc bén trong thiên hạ, nhờ thế mới được ngọn dao găm của Từ phu nhân - người nước Triệu. Sau khi nhận được vũ khí lợi hại này, Kinh Kha dấu nó trong bản đồ nước Yên sẽ dâng lên Tần vương. Vì dao lóe sáng nên Tần vương phát hiện được. Kinh Kha ra tay, Tần Thủy Hoàng tránh được.
Những năm gần đây, trong các chương trình “Những chuyện lạ Việt Nam”của VTV3 trình làng, nhiều võ sư đã thi thố các loại công phu như chạy trên mặt nước , dùng đá xanh đập vỡ quả dưà đặt dưới cánh tay….và nhiều loại công phu khác của khí công làm dư luận xôn xao vì khả năng kỳ lạ của con người Việt Nam. Ở một quy mô quảng bá khác, trong hai lần đến Việt nam năm 2002 và 2006 , đoàn võ thuật Thiếu Lâm Tinh Anh của Chùa Thiếu Lâm (Trung Quốc) đã biểu diễn chương trình “Khám phá những điều kỳ diệu của võ thuật” tại TP HCM với những tiết mục biểu diễn khí công độc đáo và bí ẩn của các nhà sư Thiếu Lâm như “nhãn bì khiêu thủy”(dùng mi mắt xách nước),“Thiết đầu công”(dùnggậy sắt tự đập vào đầu ) cũng đã thu hút sự chú ý của công chúng.
Cũng như một số môn thể thao khác, võ thuật Sài gòn đang phát triển mạnh trong xu hướng xã hội hóa. Hàng loạt phòng tập ra đời đang phải đối mặt với vấn để lời lỗ trong hoạt động. Tuy nhiên, việc đầu tư vẫn còn rụt rè và thiếu tính chuyên nghiệp.
Vốn trốn lời. - Dạo một vòng qua các phòng tập võ thuật trên địa bàn Sài gòn , chúng tôi dễ dàng nhận ra một điều: Phần lớn các phòng tập tư nhân đều do võ sư lâu năm đứng tên và trực tiếp huấn luyện. Ít ai dám bỏ tiền ra đầu tư phòng tập và thuê huấn luyện viên (HLV) về dạy.
Một số hình ảnh tiêu biểu
trong kỳ hội diễn võ thuật cổ truyền Hà Nội mở rộng lần thứ 24- 2009
Kết quả:
Nhất toàn đoàn: Môn phái Thiếu Lâm Sơn Đông
Giải nhì: Bình định gia
Giải ba: Trường PT VT Bảo Long
Bình Định được định danh là miền đất Võ. Tên gọi ấy không phải ngẫu nhiên mà thành, mà được khởi nguồn từ truyền thống thẳm sâu của miền đất này. Ở Bình Định, ẩn sau lũy tre làng bình dị như bao làng quê khác, là những làng võ với những võ sư một thời danh chấn. Một trong những huyền thoại còn lại ở đất Võ là võ sư Phan Thọ.
Trước xu thế hội nhập, nhiều môn võ quốc tế đã và đang phát triển như vũ bão trên đất nước ta, khiến cho nhiều người lầm tưởng võ cổ truyền Việt Nam (VCTVN) cũng chỉ là “phiên bản” của các môn võ có nguồn gốc từ Phương Đông, nhất là dòng võ Thiếu Lâm của Trung Hoa. Vậy đâu là sự thật?. Ở đây chúng tôi muốn nêu một vài cứ liệu cơ bản để khẳng định nguồn gốc của VCTVN, sự giống nhau và khác nhau của nó.
(Bùa vàng vuông, dành cho hàng sư)
Gần đây, thấy báo chí bắt đầu viết nhiều về Thất Sơn Thần Quyền, nhưng tiếc thay, thiên hạ chẳng hiểu gì về môn phái này. Đọc, chỉ thấy tức anh ách. Có một vài bài báo, chắc là đựoc nghe đệ tử của môn phái kể chuyện. Nhưng tiếc, các đệ tử ấy, dù đã đựoc thiên hạ đánh giá là cao thủ, nhưng sự hiểu về môn phái cũng quá hạn hẹp. Chỉ giỏi khoe quyền, khoe chuyện đi đánh nhau, hay thể hiện vài ba chiêu đặc biệt. Ây là đặc biệt với người thường, còn với trong môn, chẳng qua chỉ là chuyện tôm tép.
Nguyễn Văn Tộ (1895-1984), còn có tên là Sáu Tộ là võ sư nổi tiếng trong làng võ Hà Nội. Ông là bạn của các bậc tiền bối võ thuật Việt Nam như Ba Cát, Hàn Bái, Cử Tốn. Từ nhỏ ông đã được học võ dân tộc của những người đã dự kỳ thi võ của triều đình Huế, sau đó ông học thêm một số môn phái võ Trung Hoa để bổ sung cho môn võ của mình. Trong suốt cuộc đời, ông đã đóng góp nhiều công sức cho việc truyền bá, giảng dạy võ dân tộc. Ông đã tuyên danh và thành lập Nam Hồng Sơn là môn phái võ kết hợp uyển chuyển giữa hai dòng võ Trung Hoa và võ cổ truyền Việt Nam. Trong môn phái Nam Hồng Sơn hiện nay còn gìn giữ được một số bài võ cổ thuộc chương trình thi võ của triều Nguyễn trước kia.
Cơ quan điều tra xác định vụ án mạng đêm 3/2 xuất phát từ một oán thù từ 5 năm trước. Hiện cơ quan công an đã ra thông báo truy nã 7 đối tượng nghi vấn trong đó có Trần Xuân Ánh - cựu vô địch Wushu châu Á.
Mạnh mẽ với Hùm kê quyền, uyển chuyển với côn nhị khúc, thót tim cùng biểu diễn khí công..., những sinh viên Học viện Biên phòng đã gây ấn tượng mạnh với khán giả, ngày 27/2.
Ở vào thời nay, bên ta cũng vậy mà bên Tầu cũng vậy, so với việc phụ nữ có văn thì hình như đàn bà có võ bị ít hơn rất nhiều. Trên văn đàn đương đại tấp nập thiếu nữ làm thơ, thiếu phụ viết tiểu thuyết, có tuổi hơn nữa thì viết tản văn, viết hồi ký. Không những các giải thưởng văn chương cao quý đã vắng hẳn đám râu ria mà các sách best-seller cũng nồng nàn mùi son phấn. Tên tác giả tác phẩm quyến rũ như hương như hoa, đại loại như “Bóng đè” của Đỗ Hoàng Diệu ở ta chẳng hạn, “Xin lỗi em chỉ là con đĩ” của Tào Đình ở Tầu chẳng hạn. Hồi xa xưa, hiện tượng bị lệch một vế như thế này là hiếm lắm.
Lương y - Võ sư Nguyễn Tấn Xuân sinh năm 1949 tại làng An Mô, xã Đức Lợi, quận Mộ Đức, tỉnh Quãng Ngãi - quê hương Núi ấn Sông Trà. Xuất thân từ một gia đình có truyền thống về Đông y và võ thuật ông được hấp thụ một gia phong căn bản và từ nhỏ đã hướng theo nghiệp võ, nghề y. Trải qua suốt quá trình nghiên cứu y hoc, võ thuật và chữa bệnh, ông đã đào tạo nhiều thế hệ môn sinh thành đạt cũng như để lại nhiều phương thuốc, bài thuốc y học cổ truyền quý báu cho đời.
Nhà võ xưa cho rằng gậy là tiền thân của các loại binh khí cầm tay cổ điển khác. Gậy vót nhọn có thể trở thành dáo, lao hay ngọn bút v.v... Gậy còn được gọi là Roi, Hèo, Trượng, Tiên, hay Côn ... và có nhiều loại dài ngắn khác nhau . Gậy dài được gọi là Gậy Bẩy hay Trung Bình Tiên, dài bẩy thước ta (khoảng 2,80 mét); gậy ngắn có tên là Gậy Ba dài ba thước ta (khoảng 1,20 mét) tiết diện tròn. Gậy ngắn tiết diện vuông hay chữ nhật được gọi là tay thước hay giản. (Ðôi khi giản có tiết diện lục giác và cán cầm). Nhiều lò võ xưa thực dụng hơn, không phân chia gậy, côn theo thước tấc như trên mà linh động căn cứ vào tầm vóc lớn nhỏ của từng người xử dụng, căn cứ vào chiều cao từng võ sinh để phân chia gậy ra nhiều loại dài ngắn với những tên khác nhau như Trường Côn, Tề Mi Côn, Trung Côn, hay Ðoản Côn. Ðoản côn có chiều dài từ bả vai hay nách xuống tới đầu ngón tay người xử dụng duỗi thẳng. Trung côn dài từ mặt đất chân đứng thẳng đến ngực người xử dụng. Tề mi côn dài từ mặt đất đến ngang tầm mi mắt. Trường côn dài nhất, từ mặt đất tới đầu ngón tay với thẳng của người xử dụng (được gọi là "dài một đầu một với") . Do đó Tề Mi Côn của người này có thể là Trung Côn của người khác.
Trước đây bí thuật nầy vẫn luôn bị đóng kín trong giới võ lâm, ít người biết được công phu nầy, và cũng ít người tập luyện được cách điểm huyệt… và các vị thầy dạy theo lối bí truyền nên dần dần bị thất truyền .
Môn võ được khai sáng bởi Hoàng tử TEIJUN, người con thứ 6 của Nhật Hoàng SEIWA (850-880) và truyền lại cho con là TSUME MINAMOTO, sau đó tiếp tục truyền lại cho hậu duệ YOSHIMITSU MINAMOTO, là Sứ Quân của Hạt TAKEDA. Vào thế kỷ thứ 10, Sứ Quân YOSHIMITSU MINAMOTO đã kết hợp những kinh nghiệm thâu thập được trong cuộc đời chiến sĩ của ông, đã lập thành một môn võ đặt tên là AIKI JITSU DAITO RYU.
Tại trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi chùa Đức Sơn (Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế), có một lớp võ do các huấn luyện viên (HLV) trẻ tuổi của phân đường Karatedo Nghĩa Dũng (số 8 Trương Định, TP Huế) huấn luyện.
Đã 10 năm trôi qua, mái chùa yên ả này đã chứng kiến biết bao lớp võ sinh là các em nhỏ mồ côi trưởng thành.
Nhắc đến Bình Định có lẽ ai trong chúng ta cũng đều nghĩ ngay đến những thế võ gia truyền điêu luyện, mạnh mẽ nhưng cũng không kém phần uyển chuyển.Trong đó ba làng võ An Vinh, An Thái và Thuận Truyền là ba làng võ nổi danh biểu trưng cho miền đất võ Bình Định: An Vinh giỏi quyền, Thuận Truyền giỏi roi thuộc môn phái võ ta, còn An Thái giỏi côn thuộc phái võ Tàu.
Trên màn bạc, những ngôi sao võ thuật có thể đại diện cho võ thuật Trung Hoa chỉ có bốn người là: Lý Tiểu Long, người khởi xướng trào lưu phim võ thuật; Thành Long, người mở ra “môn phái” võ tạp kỹ; Lý Liên Kiệt, người đại diện cho võ thuật Trung Hoa; và kế đến là Chân Tử Đan, người theo đuổi phong cách võ thuật của riêng mình.
Chuyện võ sĩ huyền thoại xứ Wales giã từ võ đài là tâm điểm của làng quyền Anh thế giới trong thời gian gần đây. Cũng giống như những võ sĩ lừng danh khác như: Lennox Lewis, Mohamed Ali..., Calzaghe chọn thời điểm dừng bước khi đang ở đỉnh cao phong độ, đang giữ đai vô địch thế giới (hạng siêu trung và bán hạng nặng).
SVVN)Một môn phái mới ra đời bao giờ cũng gây ra sự nghi ngờ với các môn phái khác. Thời kỳ 5 năm đầu thành lập môn phái, không ngày nào không có người đến tỉ thí, thậm chí có ngày đấu hai trận. Nhiều môn phái cử các đại đệ tử đến thách đấu. Họ thích đấu trực tiếp với Lương Ngọc Huỳnh vì anh vừa là người sáng lập vừa là chưởng môn phái: "Nhưng thật may mắn là tôi đấu chưa bao giờ thua. Thường các trận đấu diễn ra rất nhanh: không quá 1 phút là đối thủ bị đo ván. Có lẽ vì lý do này mà từ gần 10 năm nay chẳng còn môn phái nào đến Lâm Sơn Động thách đấu nữa".
Trận đấu đầu tiên với võ sư nước ngoài
Núi Nga Mi nằm ở phía Tây Nam- Trung Quốc, thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Dãy Nga Mi vốn có đỉnh núi đối nhau như đôi lông mày nên được đặt tên là Nga Mi. Núi chính có đỉnh Vạn Phật, cao 3099 mét so với mực nước biển. Dãy Nga Mi thẳng đứng cheo leo,khe hẹp lũng sâu, tùng xanh bách biếc , thác nước tung bay, xưa nay vẫn ca tụng:”Nga Mi thiên hạ tú”. Thế kỷ thứ hai, đời Đông Hán, bắt đầu xây dựng chùa chiền. Cả Đạo giáo và Phật giáo đều có ở đây. Sư sãi và đạo sĩ khi tham thiền, tĩnh tọa, niệm kinh lạy Phật xong lại múa thương, múa gậy, luyện tập đấm đá, dần dà hình thành nên võ thuật Nga Mi nổi tiếng thiên hạ.
Đầu thập niên 1970, trong khi nhiều võ sư, huấn luyện viên tài giỏi đều đã nhận trách nhiệm mở lớp, dựng võ đạo trường ở các nơi, thì tại văn phòng Chưởng Môn ở Sài Gòn, có bốn võ sư xuất sắc, về võ thuật lẫn võ đạo và trí tuệ, đang theo Chưởng Môn học tập. Anh chị em môn sinh Vovinam thời đó gọi họ là “TỨ TRỤ”.
Có lẽ quá xa xưa theo truyền thuyết, thuở các vị vua hiền đức và tài năng như Thần Nông, Phục Hi, Hoàng Đế đã có người am hiểu tận tường về môn học nầy, có nhiều người luyện tập và coi như một phép dưỡng sinh cần thiết tối yếu. Chính nó bắt nguồn và song hành phát triển cùng môn học Châm Cứu, một môn Y Học giá trị ngày nay đang được các Bác Sĩ trên Thế giới gia tâm nghiên cứu thực hành v…v…Qua những suy luận và đoán quyết môn Bát Đoạn Cẩm, môn học Khai Thông Khí Lực Kỳ Kinh Bát Mạch đã có từ Cổ thời Trung Quốc, nhưng vẫn còn nằm trong dự thuyết vì chưa có bằng chứng xác thực. Và phải đợi đến thời Chùa Thiếu Lâm phát triển nghệ thuật chiến đấu Kỹ Kích (Võ thuật) thì môn Bát Đoạn Cẩm mới chính thống được lưu truyền có phép tắc kỷ cương. Kể từ đó, môn Bát Đoạn Cẩm lan truyền mau, rộng và được người đời ngưỡng mộ tập luyện như môn phép tắc bí truyền . Như vậy thời môn Bát Đoạn Cẩm do ngài Thiền Sư Tổ Đạt Ma dạy, là học thuật mang từ Thiên Trúc (Ấn Độ) qua? Nhưng xét theo dữ kiện lịch sử thì bên Ấn Độ không có môn học nầy. Người ta quả quyết rằng ngài Tổ Sư sáng chế môn Bát Đoạn Cẩm để dạy môn đồ cho cường kiện thân tâm hầu mau đạt hạnh tu Chánh Kiến, Chánh Giác, là một hình thức tiên khởi cho môn học tối thượng Dịch Cân Pháp mà ngài sáng tác sau này.
KENDO - KIẾM ĐẠO
Kendo trong tiếng Nhật nghĩa là Kiếm Đạo - Đường của kiếm (ken - Kiếm, do - Đạo). Được bắt nguồn từ môn kiếm thuật của các Bushido (Võ Sĩ Đạo) và Samurai (Hiệp Sĩ). Kiếm Đạ được xây dựng dựa trên nhiều kĩ thuật chiến đấu bằng kiếm được lưu truyền qua hàng trăm năm thực chiến và nghiên cứu. Nó rèn luyện những kĩ năng về thể lực và tâm lý cần thiết trong chiến đấu. Mục tiêu của Kiếm Đạo không chỉ là phát triển thể lực dành cho thực chiến mà còn là rèn luyện tinh thần và nghị lực, hai thứ còn rất cần thiết trong cuộc sống bình thường.
Theo con đường cung đạo , tâm hồn và cơ thể sẽ thư thái và phóng khoáng tựa như chuông chùa và âm vang của nó trong đêm khuya thanh tĩnh . Người xạ thủ cũng chính là một thiền nhân...
Iaijutsu , sau này là Iaido hình thành từ thời cổ đại , nhưng mãi đến thế kỷ XVI , mới trở thành một nghệ thuật trác việt tại Nhật Bản , nhờ công sức nói riêng của Miyamoto Musashi ( 1584 - 1645 ) . Tương truyền , mới 13 tuổi , ông đã chiến thắng một kiếm thủ cực kỳ điêu luyện trong một cuộc đọ gươm , và sau đó mở trường dạy kiếm đạo theo nghệ thuật của chính ông . Musashi vốn tôn thờ phép nhập định , nên ông đã chọn Thiền làm căn bản tinh thần cho hệ thống tu tập kiếm đạo . Nhiều người nói toàn bộ cuộc đời ông là một chuỗi dài nối tiếp nhau những giờ phút nhập định nên đường kiếm nào của ông cũng cực chuẩn xác . Về điểm này , ông từng viết như sau : " Khi tôi đứng trước địch thủ với thanh kiếm trong tay , tôi như quên hết mọi thứ trên đời , ngay cả địch thủ nữa . Toàn bộ con người tôi và ngoại giới lúc đó tựa như đã hội nhập làm một " .
Năm 1945 sau khi quân đội Nhật thắng Pháp tại Việt Nam, cũng như tinh thần võ sĩ đạo nhật vang danh trên thế giới, môn võ Nhật, lúc bấy giờ, là môn Nhu Đạo (Judo) và môn Nhu Thuật (Jiu-Jitsu) rất được quần chúng Việt Nam ngưỡng mộ.
Lịch sử dân tộc Việt Nam để tồn tại và phát triển đã trải qua hang nghìn năm chiến đấu chống ngoại xâm. Trong khoảng thời gian đó, chiến tranh là thể hiện sự so tài bằng sức lực nghệ thuật chiến đấu với các loại vũ khí thô sơ và hiện đại thời bấy giờ… Thực hiện chiến lược và chiến thuật, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, ngoài đường lối quân sự, mưu lược của các tướng lĩnh, sử dụng các công cụ để thực hiện sức mạnh của dân tộc ta chính là nghệ thuật chiến đấu của cá nhân và tập thể. Đó chính là thời kỳ hình thành Võ thuật.
Bắc Ngụy
Thái Hòa năm thứ 19 (năm 495) : Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế dời đô về Lạc Dương (thuộc Tỉnh Hà Nam ngày nay)
Thái Hòa năm thứ 20 (năm 496) : Hiếu Văn Đế ban chiếu cho cao tăng Bạt Đà từ Tây Trúc đến xây dựng chùa Thiếu Lâm
Hy Bình năm thứ 2 (năm 517) : Chùa Vĩnh Ninh ở Lạc Dương được xây xong. 70 năm sau chùa này bị hỏa hoạn thiêu rụi. Thời gian này, Bồ Đề Lạt Ma đã chứng kiến, sau đó vào tọa thiền tại Ngụ Nhũ Phong thuộc Thiếu Lâm Tự.
Triều đại Tây Sơn có nhiều danh tướng đã làm vang danh các vũ khí được sử dụng trong sự nghiệp dựng nước. Nổi danh nhất là Tây Sơn thập thần vũ khí.Đó là mười món binh khí có những đặc điểm phi thường: một thanh thần kiếm, hai cây thần côn, ba thanh thần đao và bốn cây thần cung của các danh tướng Tây Sơn.
Môn quyền Anh có lịch sử rất lâu đời. Khoảng 3700 năm trước công nguyên, ở xứ Mésopotamie (cổ Hy Lạp) đã lưu hành môn đấu quyền, thuỷ tổ của môn quyền Anh ngày nay
Chưởng môn Suzuki Choji Suzuki Choji sinh ngày 10.6.1919 tại Kasagami, thành phố Tagajo, tỉnh Miyagi thuộc miền Bắc Nhật bản. Từ lúc còn là học sinh tiểu học và trung học Suzuki Choji đã theo học Nhu đạo và Karate. Năm 19 tuổi lên Tokyo làm việc cho một salon ô-tô, ông tiếp tục tập luyện, nghiên cứu võ thuật. Vào những ngày cuối tuần và ngày lễ, ông lặn lội về tận Nagasaki thụ giáo bí kíp môn Karate cổ truyền với một Samurai thuộc phái Takeno uchi ryu (trúc linh chi nội) từ lâu ẩn tích mai danh, chỉ thu nhận 3 đệ tử , trong đó có ông. Năm 1941, ông bị động viên, phục vụ ở các chiến trường Mãn Châu, Mã Lai. Cuối năm 1944, ông sang miền Bắc VN.
Vật cổ truyền là một môn võ lâu đời được hình thành và phát triển từ xa xưa, trong quá trình Ông cha ta dựng nước và giữ nước. Theo truyền thuyết còn kể lại rằng, Ông tổ môn Vật của phường Mai Động, Hai Bà Trưng, Thủ đô Hà Nội ngày nay chính là Nguyễn Tam Chinh, là vị Đô Úy dưới trướng của Trương Nữ Vương trong thế kỉ 1.
Chùa Thiếu Lâm (Hán tự: 少林寺; bính âm Hán ngữ: Shàolínsì; phiên âm Hán-Việt: Thiếu Lâm tự; dịch nghĩa: "chùa trong rừng gần đỉnh Thiếu Thất") là một ngôi chùa tại Tung Sơn, thị xã Đăng Phong, địa cấp thị Trịnh Châu, Hà Nam, Trung Quốc, nổi tiếng từ lâu nhờ mối liên hệ với Phật giáo Thiền tông và võ thuật. Là cái nôi của Thiền tông Trung Hoa, có lẽ nó là một cơ sở Phật giáo nổi tiếng nhất đối với phương Tây. Tuy nhiên, võ thuật của Thiếu Lâm tự lại được biết đến nhiều nhất đối với người Á Đông, chùa Thiếu Lâm với võ phái Thiếu Lâm được xem là nguồn gốc các phái võ Trung Quốc hiện nay, từng có câu thành ngữ nói về điều đó: "Thiên hạ công phu xuất Thiếu Lâm" (mọi công phu võ thuật trong thiên hạ đều khởi phát từ Thiếu Lâm).
Nội gia quyền, tên chữ Hán: 內家, đọc bính âm Nèijiā, danh từ này được người Trung Hoa dịch sang tiếng Anh là Internal Style (trái ngược lại danh từ Ngoại gia quyền, (chữ Hán: 外家, đọc bính âm : Wàijiā ) được dịch sang tiếng Anh là External style hay "External family"), là tên một loại quyền thuật do Trương Tam Phong sáng tạo có nhiều đường nét rất giống Thái cực quyền khiến cho người đời sau ngộ nhận đây chính là Thái cực quyền nguyên thủy rồi gán cho ông là sư tổ sáng tạo ra Thái cực quyền, Hình ý quyền, Bát quái chưởng là ba môn quyền của trường phái Nội gia quyền.
Thái Lý Phật Gia quyền; Thái Lý Phật Quyền (chữ Hán: 蔡李佛拳) hay Thái Lý Phật (蔡李佛) (tên tiếng Anh phiên âm từ chữ Hán là Choy Lei Fut hay Choy Li Fut, Choy Lay Fut, Choy Lee Fut) là tên một phái võ miền nam Trung Hoa trong hệ thống các bộ môn Nam Quyền. Đây là phái võ tích hợp từ ba phái Nam Quyền là Thái Gia Quyền (Choy Gar Kuen), Lý Gia Quyền (Li Gar Kuen), và Phật Gia Quyền (Fut Gar Kuen) trong Ngũ Đại Danh Gia Quyền Thuật Thiếu Lâm Nam Quyền Phúc Kiến là Hồng, Lưu, Lý, Mạc, Thái
Đàn thối (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia - 19/12/2008)
Đàn thối (彈腿; bính âm: dàn tuǐ) hay Đàm thối (譚腿; bính âm: tán tuǐ) hay Đàm/đàn thoái quyền (được dịch nghĩa tiếng Anh là "springing legs"), là căn bản võ thuật của miền Bắc Trung Hoa thịnh hành ở lưu vực sông Hoàng Hà.
Yến Thanh quyền (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia - 19/12/2008)
Yến Thanh Quyền (Yan Qing Quan 燕青拳), tên chính xác là Mê Tung nghệ (chữ Hán: 迷蹤藝); bính âm Hán ngữ: Mízōngyì; dịch nghĩa tiếng Anh "Lost Track Skill"), hay được biết dưới tên Mê Tung quyền (chữ Hán: 迷蹤拳; bính âm: Mízōng quán; dịch nghĩa tiếng Anh: "Lost Track Fist") có nguồn gốc từ bài quyền Mê Tông La Hán của Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam (chữ Hán: 迷蹤羅漢; bính âm: Mízōng Luóhàn.)
Yến Thanh quyền còn được gọi là Nghê Tung quyền, Mật Tung quyền, Mê Tung nghệ (Mật Tông là một dòng tu kín trong Phật giáo ở Trung Hoa và Miến Điện), Mê Lộ quyền (đường quyền bí hiểm), Mê Tung nghệ (vết chân bí hiểm) mượn sự tích ăn trộm đào tường khoét vách không để lại dấu vết của nhân vật Yến Thanh trong Thủy Hử truyền lại. Mê (迷) có nghĩa là biến ảo (không để lại dấu vết), tông hay tung (蹤) có nghĩa là dấu vết, dấu chân, tạm dịch những bước chân kỳ ảo.
Bạch Mi đạo nhân, người đã sáng tạo ra quyền thuật Bạch Mi phái, một dòng võ nổi tiếng trong hệ Nam quyền của Nam Thiếu Lâm.
Phiên tử quyền (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia - 19/12/2008)
Phiên tử quyền (chữ Hán: 翻子拳, đọc bính âm: Fānziquán, dịch nghĩa tiếng Anh Tumbling Fist ) là một bộ môn quyền thuật miền Bắc Trung Hoa chú trọng kỹ pháp tấn công và phòng thủ chỉ bằng các chiêu thức thủ pháp (đòn tay) và có nguồn gốc từ Ưng Trảo Quyền của Bắc Thiếu Lâm.
Trong Phiên tử quyền còn có một lưu phái thuộc nhánh khác tên gọi Bát Thiểm Phiên (chữ Hán: 八閃翻, đọc bính âm: Bāshǎnfān, dịch nghĩa tiếng Anh 8 Flash Tumbles hay 8 Evasive Tumbles) cũng đều có chung một gốc từ Thiếu Lâm mà ra.
Arnis đã xuất hiện ở Philippines từ thế kỷ thứ 15 nhưng không ai rõ nguồn gốc xuất xứ và Tổ sư của nó là ai? Chỉ biết người dân Philippines đã sử dụng Arnis rất hữu hiệu vào cuộc kháng chiến chống Tây Ban Nha xâm lược .Cùng với đất nước Philippines, Arnis đã trường tồn cho đến nay.
Bạch hạc quyền xuất xứ từ Thiên Trúc và có thể được coi là một trong những môn công phu cổ truyền nhất từ xưa đến nay trong những tuyệt kỹ chánh môn của Thiếu Lâm Quyền. Tuy nhiên, không giống như trường hợp môn phái Ðường Lang đươc lưu truyền rộng rãi trong nhân gian bởi nhiều nhà, nhiều nhánh, Bạch hạc được truyền thừa theo một nhánh duy nhất khởi đi từ các vị Lạt ma, đến đời Bồ Ðề Ðạt Ma và cuối cùng nơi Thiếu Lâm Tự.
Bát cực quyền là một môn quyền danh tiếng trong các phái võ miền Bắc của Trung Hoa đã có lịch sử phát triển trên 300 năm. Với uy lực sấm sét của những đòn đánh cận chiến thực dụng, Bát cực quyền đã được phát triển từ một số bài quyền ban đầu trở thành một hệ thống luyện tập riêng biệt, độc đáo mà các môn sinh có thể theo học cả đời.
Há Tàu là biệt danh của Võ sư Chu Há, một đệ tử chân truyền người Việt Nam của cố đại lão võ sư người Trung Quốc Sú Chỉ Cóng (tên Việt Nam là Tô Tử Quang, tục gọi là cụ Sú Tàu), một trong những võ sư nổi tiếng khắp vùng Quảng Tây Trung Quốc từ những thập niên 20 của thế kỷ trước với tài đánh côn xuất quỷ nhập thần.
“Độc thủ đại hiệp” - đó là biệt danh của làng võ thuật Việt Nam đặt cho Võ sư Mã Vĩnh Trinh khi ông thượng đài, biểu diễn tuyệt kỹ “độc thủ xuyên sơn” bằng cánh tay trái tật nguyền mà công năng như một đoản đao bằng thép, tưởng có thể xẻ được núi. Nhiều người còn cho rằng, ông là một kỳ nhân dị tướng.
Huyền thoại về những "thiên hạ đệ nhất" cao thủ - Chuyện thứ mười:
Bắc Phong Chân Nhân và môn phái "nhường 3 đòn"
Bắc Phong Chân Nhân Băng Sơn
Võ lâm giang hồ biết đến Bắc Phong Chân Nhân - võ sư Băng Sơn với tư cách là đệ tử cuối cùng trong nhóm "Thập nhị đại đồ đệ" của Chưởng môn phái Võ lâm Côn Luân, Thanh Hư Chân Nhân Đoàn Tâm Ảnh
KTNT - Ông khiến người đối diện có cảm giác ấn tượng về vóc dáng và phong thái ngang tàng, pha chút nghệ sĩ. Từng đào tạo hàng nghìn võ sĩ nhưng ông còn nổi tiếng trong vai trò một danh y chuyên chữa đau nhức gân, xương khớp.
Đường Lang Quyền là một phái võ nổi danh với những chiêu thức vô cùng linh hoạt độc đáo. Trong suốt quá trình lịch sử hình thành và phát triển của mình, Đường Lang Quyền đã luôn luôn không ngừng sáng tạo và gìn giữ những tinh hoa của các bậc tiền nhân. Từ cội gốc ban đầu, rất nhiều chio phái của Đương Lang đã ra đời làm phong phú thêm võ học tinh hoa của bản môn nói riêng và truyền thống võ thuật Trung Hoa nói chung.
Bắc Giang vốn thuộc xứ Kinh Bắc ngàn năm văn hiến, thời phong kiến đã có người 58 thi đỗ đại khoa làm rạng rỡ truyền thống khoa bảng và hiếu học của quê hương. Về mặt chiến lược quân sự, các triều đại phong kiến xưa đều quan tâm tới vùng đất này, vì nó nằm trên con đường thiên sứ nối kinh đô Thăng Long với phương Bắc, vì thế vùng đất này cũng được coi là một trong 4 trấn quan trọng của Kinh thành Thăng Long.
Mê Tông Quyền (Mê Tung Quyền) hay còn có cách gọi khác là Yến Thanh Quyền có nguồn gốc từ bài quyền Mê Tông La Hán của Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam.
Yến Thanh Quyền còn được gọi là Nghê Tông quyền, Mật Tông quyền, Mê. Mê Tông nghệ (vết chân bí hiểm) mượn sự tích ăn trộm đào tường khoét vách không để lại dấu vết của nhân vật Yến Thanh trong Thủy Hử truyền lại. Mê (迷) có nghĩa là biến ảo (không để lại dấu vết), tông hay tung (蹤) có nghĩa là dấu vết, dấu chân, tạm dịch những bước chân kỳ ảo.